Tin tức - Sự kiện
Giáo sư Tiến sỹ Ngô Quý Châu - Một chữ Tâm với nghề


Người mà chúng tôi muốn nói đến là Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Quý Châu- Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Chủ tịch Hội Hô hấp Hà Nội, người con của quê hương Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang.

Trong số những nhân vật của "Người Bắc Giang tiêu biểu" làm công tác nghiên cứu khoa học mà chúng tôi đã gặp và biết, anh là người khá trẻ. Nhưng tài năng dường như không đợi tuổi. Anh là một trong những chuyên gia đầu ngành về hô hấp của Việt Nam và mức độ "phủ sóng" của anh còn lan sang cả các nước châu Âu - nơi vốn có nền y học hiện đại nhất thế giới.

Người mà chúng tôi muốn nói đến là Giáo sư - Tiến sĩ Ngô Quý Châu- Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, Chủ tịch Hội Hô hấp Hà Nội, người con của quê hương Mỹ Độ, thành phố Bắc Giang.

Sáng thứ bảy, anh hẹn chúng tôi tại nhà riêng trên phố Phó Đức Chính, Hà Nội. Không mặc áo bờ-lu trắng, không com-lê, ca-vát, anh trẻ hơn nhiều so với tuổi 50 của mình. Giữa nơi đô thành "đất chật người đông", nhà anh vẫn trồng đủ các loại cây, không gian sống thật trong lành. Anh vui vẻ bảo: "Mình là bác sĩ hô hấp nên mắc "bệnh nghề nghiệp". Quanh nhà cứ chỗ nào có đất trống là có cây xanh. Thế mới "dễ thở" được".

Rồi anh chỉ sang bà xã (cũng khá trẻ) giới thiệu hóm hỉnh: "Đây là Hằng - vợ mình đồng thời cũng là đồng hương, là mẹ của hai con gái mình. Một đang học lớp 7, một học lớp 5. Trong nhà, mình "đẹp trai" nhất đấy!". Cảm nhận đầu tiên của chúng tôi về gia đình anh thật vui vẻ - một gia đình trẻ hiện đại, hạnh phúc.

Pha trà mời khách và hỏi thăm vài câu chuyện về quê hương, chị xin phép vào trong để chúng tôi tự nhiên trò chuyện. Anh kể: Tuổi thơ của anh gắn liền với dòng sông Thương "nước chảy đôi dòng" với cây cầu bắc ngang. Thuở nhỏ là những buổi chiều đọc sách, thả diều dọc triền sông, theo các cô chú tới cơ quan bố làm việc bên kia sông.

 
Anh bảo: "Mình không phải "dân" Văn nhưng thực sự vẫn thấy sông Thương quê mình đẹp. Lúc xa quê càng nhớ và ấn tượng hơn". Học xong phổ thông năm 1977, anh thi đỗ vào Trường Đại học Y Hà Nội. Tốt nghiệp anh thi tuyển chọn bác sĩ nội trú và học tiếp 3 năm bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Bạch Mai - Bộ môn Nội Tổng hợp, Trường Đại học Y Hà Nội. Trong số các bác sĩ nội trú khóa ấy, anh là người duy nhất được chuyển thẳng làm nghiên cứu sinh.  Thời gian học nghiên cứu sinh, anh được sang Pháp thực tập (9/1990 - 11/1991) tại Bệnh viện Pitie Salpetriere - Đại học Paris VI.
 
Năm 1992, khi mới 32 tuổi, anh bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ về đề tài ung thư phổi, là bác sĩ trẻ nhất của Việt Nam có bằng Tiến sĩ Y khoa lúc bấy giờ. Cùng năm đó, anh vinh dự được trở lại Pháp học thêm một số lĩnh vực về ung thư học, bệnh phổi nghề nghiệp và môi trường… Năm 1995, anh là người Việt Nam đầu tiên thi đỗ vào khóa học Liên các trường đại học của Pháp chuyên sâu về phổi và được Bộ Y tế cho phép tiếp tục học ở Pháp thêm bốn năm nữa.
 
Cuối năm 1999, anh về nước và đứng trước sự lựa chọn sẽ làm việc ở đâu khi một bên là bệnh viện liên doanh nước ngoài trả lương tháng bằng "đô" và một bên là trường đại học - bệnh viện công lập với mức lương khởi điểm bậc 1: 1,92? Giằng co với "bài toán kinh tế" và tự trọng nghề nghiệp, anh chọn Trường Đại học Y Hà Nội - Bệnh viện Bạch Mai làm nơi dừng chân. Anh tâm sự: "Lúc ấy, mình phải động viên gia đình và trấn an cả chính mình. Hai vợ chồng từ Pháp về một thời gian thì nguồn tài chính coi như gần hết, con lớn mới gần 3 tuổi, con nhỏ mới 3 tháng. Nếu có điều kiện cho con học ở trường quốc tế sẽ rất tốt cho vốn ngoại ngữ sẵn có của con nhưng rồi vì điều kiện kinh tế, mình quyết định cho con học ở trường mẫu giáo phường, con nhỏ gửi trẻ.
 
Mình nghĩ hơn 20 năm Nhà nước cho ăn học, trong đó hơn 8 năm tu nghiệp nước ngoài, được kết nạp Đảng ở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, chẳng lẽ những sự ưu ái, nỗ lực, trí tuệ đó chỉ để phục vụ một nhóm người khá giả? Nếu vậy, tự mình cảm thấy như có lỗi với Đảng, với nhân dân, với người bệnh". Quyết định của anh được cả gia đình ủng hộ và anh được làm việc bằng đúng tâm nguyện, khát vọng cống hiến của mình.
 
Năm 2005, anh được phong Phó Giáo sư và tháng 2-2007, là Phó Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai. Rồi 4 năm sau, anh được phong Giáo sư. Ngoài ra, anh còn là Trưởng Bộ môn Nội Trường Đại học Y Hà Nội và Trưởng Khoa Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai; Chủ tịch Hội Hô hấp Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Nội khoa Việt Nam.

Là bác sĩ đầu ngành về căn bệnh phổi - một trong những bệnh gây tử vong hàng đầu ở cả người lớn và trẻ em, điều mà anh trăn trở là làm sao chẩn đoán sớm và đúng bệnh, hạn chế thấp nhất tử vong và di chứng do bệnh gây ra. Anh bồi hồi nhớ lại, ngày đang học bác sĩ nội trú ở Bệnh viện Bạch Mai, anh chứng kiến một người bệnh ho ra máu và chết ngay trước mặt mà các bác sĩ đành bất lực. Tìm hiểu ra, anh biết bệnh nhân bị nhiễm trùng van tim gây áp-xe phổi dẫn đến tử vong.

 
Cái chết của người bệnh đó cứ đeo bám, ám ảnh, thôi thúc anh phải cố gắng học tập nâng cao trình độ chuyên môn để có thể cứu chữa được nhiều người bệnh thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất, thiếu thốn về kỹ thuật, máy móc, phương tiện, năm 1986, anh đã cải tiến kỹ thuật đặt catethe qua màng nhẫn giáp khí quản bằng việc sử dụng guide kim loại đã được định hình giúp đưa đầu catethe đúng vào bên phổi có tổn thương để lấy bệnh phẩm chính xác nhằm chẩn đoán đúng căn nguyên gây nhiễm trùng phổi.
 
Sáng kiến này không chỉ mang lại cho anh Bằng khen, Huy chương Tuổi trẻ sáng tạo, Huy chương Lao động sáng tạo sớm nhất ngành y tế mà đã giúp anh khẳng định niềm tin rằng dù làm việc trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn nhưng các thầy thuốc Việt Nam nếu chịu khó tìm tòi, suy nghĩ vẫn sẽ có những đóng góp hữu ích cho nền y học phát triển. Trong quá trình học nghiên cứu sinh, anh đã tự tìm tòi “sáng tạo” làm được một số dụng cụ thiết yếu cho chuyên khoa như kim sinh thiết màng phổi, kim chọc hút xuyên vách khí phế quản, thước định vị bằng nhôm để xác định đúng vị trí chọc sinh thiết xuyên thành ngực phát hiện sớm những u phổi nhỏ, được các đồng nghiệp quốc tế công nhận.
 
Hay thời gian ở Pháp, anh đã cứu một bệnh nhân bị bệnh hen bất ngờ lên cơn khó thở cò cứ nặng rồi ngừng thở, ngã gục khi anh đang thăm khám. Rất nhanh, anh đã đặt được ống nội khí quản giúp người bệnh qua cơn nguy kịch mà không ảnh hưởng đến não. Anh bảo: Với những bệnh nhân phổi, nếu không được xử lý kịp thời, chỉ trong vài phút cũng có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề về não, vận động… Như vậy, nhiệm vụ của bác sĩ không chỉ cứu bệnh nhân mà còn phải cứu để họ sống khỏe, lành lặn.

Từ lòng yêu nghề và say mê với công việc, từ năm 2001, anh và các đồng nghiệp ở Bệnh viện Bạch Mai đã triển khai thành công và cải tiến kỹ thuật sinh thiết phổi bằng kim cắt dưới sự hướng dẫn của chụp cắt lớp vi tính, giúp chẩn đoán chính xác những tổn thương trong phổi, đặc biệt là những tổn thương nhỏ, sâu mà cách sinh thiết thông thường không tới được. Thành công trong nghề nghiệp giúp anh không chỉ có uy tín trong nước mà còn có sức lan tỏa ra các nước châu Âu - nơi vốn có nền y học hiện đại nhất thế giới.

 
Hiện nay, anh là thành viên Hội Hô hấp châu Âu, Hội Lồng ngực Hoa Kỳ, Hội Phổi Pháp - Việt và thường xuyên có sự trao đổi chuyên môn với các chuyên gia đầu ngành thế giới. Anh là tác giả - chủ biên của nhiều giáo trình, sách chuyên đề nội khoa, bệnh hô hấp. Anh cũng nhận được nhiều Bằng khen, Kỷ niệm chương cho những đóng góp, cống hiến của mình nhưng quan trọng hơn cả, theo anh, đó là sự sống, niềm vui, sự hồi sinh của người bệnh.
 
Lúc chia tay, anh kể cho chúng tôi nghe trường hợp hai người phụ nữ bị bệnh phổi, một người ở tỉnh Hà Nam, một cũng từng ở ngành y. Họ tìm đến với anh trong tuyệt vọng khi đã điều trị ở nhiều bệnh viện mà bệnh không hề thuyên giảm và anh đã làm đuợc điều kỳ diệu: không những chẩn đoán đúng bệnh của họ - hai căn bệnh hiếm gặp, lần đầu tiên chẩn đoán được ở Việt Nam, mang họ trở về với gia đình mà sau đó, khi sức khỏe ổn định, cả hai người phụ nữ đều sinh thêm được con khỏe mạnh trong niềm vui sướng tột cùng của gia đình, dòng tộc.
 
Anh bảo, những sự hồi sinh tiếp nối hồi sinh như thế là phần thưởng vô giá của người bác sĩ, hơn cả lương tháng nghìn "đô" và bất cứ danh hiệu nào khác…

Tôi bất chợt nghĩ tới câu châm ngôn trên tờ lịch ngày hôm đó treo ở nhà anh mà mình tình cờ ghi lại: "Con người không chỉ sống bằng cơm mà còn bằng nhân cách nữa" (Lacordaire). Vâng, tôi đã thấy nhân cách đó ở anh, bởi trong anh luôn sáng một chữ TÂM với nghề.

Theo Báo Bắc Giang


Tin cùng chuyên mục