Là con thứ 5 trong bẩy người con của nhà nho yêu nước Trần Bỉnh Bưu. Năm lên 6 tuổi, bố mất, nhà nghèo nhưng cậu bé Uy vẫn quyết chí đèn sách. Học xong cấp III; năm 1957, Trần Hồng Uy chọn thi vào Trường Đại học Nông lâm, khoa trồng trọt. Năm 1961, ông tốt nghiệp ra trường với tấm bằng kĩ sư nông nghiệp và được điều về Ty Nông nghiệp Hà Bắc.
Với vốn kiến thức học được sau 4 năm trong trường Đại học Nông lâm cộng với nhiệt huyết của tuổi trẻ, ông lao vào làm việc không kể ngày đêm cùng các đồng nghiệp chỉ đạo sản xuất nông nghiệp từ chống hạn cứu lúa, làm thuỷ lợi... ở cả những vùng xa xôi như Sơn Động, Lục Ngạn.
Năm 1962, ông được giao nhiệm vụ làm Hiệu phó Trường Trung cấp Nông nghiệp tỉnh Hà Bắc. Trường mới, mọi việc từ xây dựng cơ sở vật chất, công tác tuyển sinh đều phải làm từ đầu. Trên cơ sở những kết quả đạt được, ông được cử sang Rumani làm luận án phó tiến sĩ đúng vào mùa xuân năm 1968.
Nhớ lại ngày đó, ông xúc động rân rấn nước mắt kể: Tôi nhớ như in đoàn tàu chở anh em sang "tây du học" ngược lên Hữu nghị quan, để từ đó qua các nước XHCN ở Đông Âu. Chiều ngược lại là các đoàn quân đi về phía Nam cứ nghìn nghịt súng đạn. Tôi rơi lệ trước cảnh chiến tranh và tự hỏi trong đoàn quân ấy liệu còn mấy ai trở về? Còn tôi thì êm ấm đi về phía Bắc hoà bình. Và tôi luôn nghĩ đoàn quân chúng tôi cũng ra trận, đó là trận địa khoa học để xây dựng lại đất nước sau chiến tranh. Mình phải làm gì để xứng đáng với lòng tin mà Đảng và nhân dân đã trao cho. Chính vì thế, suốt những năm tháng học tập, nghiên cứu trên đất bạn Rumani, tôi luôn cố gắng hết mình và bảo vệ xuất sắc luận án phó tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu khả năng kết hợp của một số dòng ngô".
Đầu năm 1972, về nước, ông được lãnh đạo Bộ Nông nghiệp cử về công tác tại Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm Việt Nam, dưới sự chỉ đạo, dìu dắt của nhà bác học Lương Định Của. Tại đây ông đã học được nhiều điều từ phẩm chất của nhà bác học đáng kính, để rồi vượt qua bao khó khăn, cống hiến hết sức lực, trí tuệ của tuổi trẻ cho các công trình nghiên cứu khoa học.
Theo lời khuyên của Giáo sư Lương Định Của "Hãy lấy thực tế trên đồng ruộng để chứng minh những ý tưởng, công trình nghiên cứu khoa học", ông tình nguyện lên Trại ngô Sông Bôi. Năm đó, Trại ngô Sông Bôi chỉ là mấy túp lều gianh dựng lên bằng tre nứa, những bữa cơm mì luộc, bo bo với rau rừng, nhưng khó khăn đó không làm ông và đồng nghiệp nản chí, mà ngược lại càng thêm quyết tâm đưa nghiên cứu khoa học vào ứng dụng thành công.
Năm 1973, nhân một cuộc họp quan trọng giữa Chính phủ với Bộ Nông nghiệp tổ chức tại Phú Thượng, Hà Nội, có sự tham gia của các nhà khoa học lai tạo giống tên tuổi như Lương Định Của, Bùi Huy Đáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã hỏi các nhà nông học: "Bao giờ thì có giống ngô của Việt Nam?" Phó tiến sĩ Trần Hồng Uy đứng dậy thưa: "Thưa Thủ tướng, phải mất ít nhất 7 năm mới có giống ngô Việt Nam". Lời hứa với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thành sự thật. Chỉ 4 năm sau (1977), ông và các đồng nghiệp đã lai tạo thành công một loạt giống ngô thuần, có năng suất gấp đôi so với giống ngô truyền thống trước đó. Đầu tiên phải kể đến là giống tổng hợp 2A (TH2A), Tổng hợp 2B (TH2B), TSB1, TSB2, VM1, MSB49, nếp VN2... khoảng 13 giống ngô thụ phấn tự do ra đời.
Trong 13 giống ngô thuần chủng ấy, thì Phó tiến sĩ Trần Hồng Uy là tác giả của 6 giống và là đồng tác giả 3 giống khác. Những giống này được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp công nhận và đưa vào sản xuất rộng rãi trên toàn quốc, năng suất từ 3-6 tấn/ha, đưa sản lượng ngô toàn quốc từ 280 nghìn tấn (1975) lên 671 nghìn tấn (1990). Hiệu quả kinh tế rõ rệt, nông dân rất phấn khởi tin dùng các giống ngô này.
Ông Uy nhớ lại: Những năm đó, đứng trước những thách thức lớn, đó là việc triển khai các chương trình nghiên cứu rất tốn kém, đòi hỏi nhiều tiền, nhiều sức người, nhiều thời gian và công nghệ tiên tiến. Trong khi đó với điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam: tiền ít, trang thiết bị thí nghiệm và vật tư có hạn, công nghệ chưa cao.
Vậy phải làm thế nào đáp ứng yêu cầu của Bộ Nông nghiệp và giữ lời hứa với Thủ tướng Chính phủ? Tôi cùng các đồng nghiệp xác định, trước hết phải xây dựng quỹ gen ngô mang tính đặc thù của Việt Nam, bằng việc nhanh chóng điều tra, thu thập những quần thể, những giống địa phương quý để làm nguyên liệu lai tạo; tích cực thu thập những nguồn gen nhiệt đới, đặc biệt là những nguồn gen của các nước có cùng vĩ độ với Việt Nam.
Giai đoạn 1972-1989 Trại ngô Sông Bôi trước đây và nay là Viện nghiên cứu ngô đã đưa ra được 13 giống ngô thuần chủng làm cơ sở cho chương trình ngô lai. Từ năm 1990-1993, ông đề nghị Viện nghiên cứu ngô và Bộ Nông nghiệp và PTNT cho tiến hành chương trình tạo giống ngô lai không quy ước với 5 giống LS3, LS5, LS6, LS7, LS8 với tính chất chín sớm, chín muộn, chống chịu hạn tốt, đầu tư hạt giống rẻ, năng suất từ 3-7 tấn/ha.
Giai đoạn 1994-2000 là thời gian nâng cấp từ giống ngô lai không quy ước sang giống lai quy ước có tính chất phát huy tổng lực để đưa chương trình ngô lai đứng vững trên đồng đất Việt Nam và khẳng định thị phần ưu thế bên cạnh các đại công ty sản xuất ngô giống lai của nước ngoài. Cũng trong thời gian này, Viện nghiên cứu ngô đã đưa nhanh những giống ngô lai chính quy vào sản xuất, chiếm 50% thị phần trên toàn quốc, có năng suất từ 5-12 tấn/ha.
Tính đến năm 2007, ông đã cùng đồng nghiệp tạo ra trên 20 giống ngô mới được trồng đại trà, đạt tổng sản lượng 4.100.000 tấn. Riêng tiền mua hạt giống mỗi năm tiết kiệm được khoảng 10 triệu đô la. Nông dân được hưởng lợi nhiều nghìn tỷ đồng do được mua hạt giống rẻ và do tăng năng suất đem lại. Đặc biệt, công trình ngô đông trồng bầu trên nền đất ướt sau hai vụ lúa, mỗi năm đem lại từ 150.000 đến 200.000 tấn ngô, đã góp phần giải quyết nạn thiếu lương thực trong nhân dân vào thời kỳ giáp hạt tháng 3.
Vì những cống hiến hết mình cho cây ngô, giáo sư - tiến sĩ Trần Hồng Uy đã được tặng 4 bằng lao động sáng tạo, 3 bằng tác giả sáng chế, 2 huân chương lao động hạng Ba và 2 giải thưởng quốc tế do Trung tâm tạo giống ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT) và chương trình ngô vùng châu Á (CIMMYT - ARMP) tặng năm 1993 và 1998. Năm 2000, ông vinh dự được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và phong danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
Sau bao năm làm việc không mệt mỏi, giờ đây tuổi đã cao nhưng ông vẫn tiếp tục làm cố vấn cao cấp tại Công ty cổ phần giống Trung ương để xây dựng một đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học có đủ sức lo cho cây ngô trong tương lai. Với điều kiện của mình, ông thường xuyên về Bắc Giang phối hợp với tỉnh chuyển giao khoa học kỹ thuật và cung cấp các giống ngô lai, đậu tương, đậu xanh, phương thức trồng ngô lai trên nền đất ướt cho nông dân một số huyện Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Dũng, góp phần xoá đói, giảm nghèo.
Nam Giang
(Báo Bắc Giang)