Tin tức - Sự kiện
GS-TS Dương Xuân Ngọc: Quê hương mãi là chùm khế ngọt


Khi điện thoại xin hẹn gặp ông để viết về "Người Bắc Giang tiêu biểu", ông khiêm tốn nói rằng người Bắc Giang mình còn nhiều người tiêu biểu xuất sắc lắm, mình chỉ là một thành viên nhỏ bé thôi. Sau một hồi thuyết phục, rồi giới thiệu người của quê hương, ông đã đồng ý. Người mà chúng tôi nhắc đến được sinh ra và lớn lên (trên quê hương Đại Hoá - Tân Yên) - Giáo sư - Tiến sĩ (GS. TS) Dương Xuân Ngọc - Phó Giám đốc Học viện Báo chí và tuyên truyền.

GS. TS. Dương Xuân Ngọc (thứ ba từ trái sang) trong một hội thảo với các chuyên gia Trung Quốc.

Ông hẹn gặp chúng tôi ở phòng làm việc của mình trong Học viện, căn phòng làm việc không lớn, nhưng choáng ngợp sách và sách. Vị GS không có mái tóc bạc phơ và cặp kính dày như tôi nghĩ. Đó là con người thân thiện, giản dị và "đậm chất nông dân". Sau chén trà nóng là những câu chuyện về làng, xóm, về tỉnh Bắc Giang, về những con đường đang mở rộng, về quê hương giàu đẹp đổi mới. Như động vào nỗi nhớ thương đã được giấu kín từ lâu, ông ngồi mường tượng lại về quê hương tuổi thơ, về một thời chăn trâu cắt cỏ, một thời bần hàn cơ cực của mình. Ông bảo: Mình không kể khổ, nhưng chính cái khổ, cái khó đã là áp lực và cũng chính là động lực thúc đẩy để mình học và chỉ có học mới thoát đói nghèo. Còn một điều đến bây giờ vẫn theo mình, thúc đẩy mình vươn lên không ngừng, đó là truyền thống hiếu học của quê hương Bắc Giang, nơi ngày xưa nổi danh "một làng có 10 tiến sĩ", đặc biệt là xã Đại Hoá hiện nay có 3 GS. Chính truyền thống ấy đã thôi thúc động viên mình học để vươn lên thoát nghèo, rạng rỡ xóm làng.

Năm 1972, khi đang là sinh viên năm thứ tư, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, cũng như bao thanh niên khác của quê hương, ông  đã "gác bút nghiên" lên đường nhập ngũ khi tròn 22 tuổi. Cái tuổi  không quá trẻ nhưng cũng đủ chín chắn để chiêm nghiệm ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, song khát vọng học tập vẫn không ngừng thôi thúc. Ông tâm sự, khi còn trong quân ngũ, mình luôn có một cuốn sổ ngoại ngữ chép tay, lúc nào rảnh thì lôi ra học. Khi nước nhà thống nhất, ông vẫn tiếp tục phục vụ trong quân ngũ, mỗi lần thư về nhà ông đều nhắn gia đình gửi sách ngoại ngữ ra chiến trường để học. Xuất ngũ năm 1976, ông tiếp tục vào học năm thứ 5 Trường Đại học Mỏ - Địa chất. Cùng với tinh thần ham học và lòng say mê nghiên cứu khoa học, năm 1977 ông đã tốt nghiệp Trường đại học Mỏ - Địa chất đã được nhận Bằng khen về thành tích nghiên cứu khoa học . Đề tài nghiên cứu khoa học đầu tiên ông lựa chọn là đề tài nghiên cứu về tài nguyên khoáng sản trên quê hương ông: "Đặc điểm và nguồn gốc dải khoáng hoá  Bairit- đa kim Tân Yên - Lạng Giang".

Đây được xem như món quà đầu tay trên bước đường nghiên cứu khoa học mà ông gửi tặng quê hương thân thương của mình. Trong công trình này, ông đã phát hiện dải khoáng hoá Ba rít- đa kim Tân Yên, Lạng Giang  có chứa hàm lượng vàng, bạc có cùng nguồn gốc với mỏ vàng Ngân Sơn ở vùng núi Thái Nguyên. Học trường Địa chất, nhưng lại bén duyên với môn xã hội Khoa học Mác - Lê nin. Thấy ông có khả năng, lãnh đạo Trường Đại học Mỏ - Địa chất cử đi học và ông chuyển hẳn nghiệp sang làm nghiên cứu về lý luận chính trị và đầu quân tại Trường Đại học Tuyên giáo (nay là Học viện Báo chí và Tuyên truyền). Ông tâm sự, cái nghiệp nó chọn  mình, mình cũng yêu thích địa chất, nhưng lại cũng đặc biệt say mê nghiên cứu lý luận chính trị thành ra "dan díu" với môn khoa học này.
 
Với tinh thần làm việc nghiêm túc, ông tự đề ra cho mình tiêu chí trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là môn Khoa học Mác - Lênin, đó là sự trung thực, thẳng thắn, tính kiên trì, dũng cảm và kiên định. Để có công trình nghiên cứu thành công là bao nhiêu công sức, bao nhiêu lần xoá đi làm lại mà không phải lúc nào cũng kể được. Thời đó, cuộc sống khó khăn, lương của hai vợ chồng đều thấp, chi phí chật vật lắm mới  sống ở mức tằn tiện. Đấy là chưa kể những hôm trái gió trở trời, vết thương cũ tái phát phải nằm viện một thời gian dài, cũng làm dang dở nhiều kế hoạch. Có những lúc tưởng buông xuôi vì thấy kiệt sức, nhưng rồi anh em bạn bè đồng hương đến động viên, các anh các chị ấy đều đã thành công bước đầu trên con đường khoa học như Giáo sư Khuê, Giáo sư Cảnh, lúc đó mình như được tiếp thêm sức mạnh, sức mạnh của tình quê hương, tình bạn bè chăn trâu cắt cỏ.
 
Thời gian học nghiên cứu sinh ở nước ngoài 1987 - 1991 có lẽ là khó khăn nhất, xa nhà xa vợ con với tình hình sức khoẻ không tốt, lại sống kham khổ nhưng ông vẫn tham gia nhiều công trình nghiên cứu với các bạn Liên Xô, đi sâu nghiên cứu về Chủ nghĩa xã hội khoa học cùng đứng tên nhiều sách. Các môn học Mác - Lênin nói chung và Chủ nghĩa xã hội nói riêng, nhiều người cho là khó và trừu tượng nhưng càng học càng nghiên cứu ông càng thấy hay, cuốn hút rồi không từ bỏ được.
 
Năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long Hà Nội, ông đã thành công với đề tài khoa học "Quan hệ giữa Đảng, chính quyền Nhà nước và các đoàn thể quần chúng cấp phường trong điều kiện kinh tế thị trường" và được UBND thành phố Hà Nội khen thưởng. Hiện nay, ông là chủ biên, đồng chủ biên nhiều sách, giáo trình phục vụ trong nghiên cứu và giảng dạy các khoa học chính trị; chủ biên chương trình đào tạo chuyên ngành Chính trị học bậc đại học đầu tiên ở nước ta, được Bộ Giáo dục và Đào tạo sử dụng làm chương trình chuẩn. Năm 1991, ông được cấp bằng Phó tiến sĩ (nay là TS) tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (AON) được phong hàm Phó GS Triết học năm 1996.


Những công trình nghiên cứu khoa học của ông, tưởng như chỉ là những tổng kết thực tiễn phát triển lý luận thuần tuý, song trên thực tế, những sản phẩm khoa học đã phục vụ trực tiếp cho công tác đào tạo đội ngũ cán bộ tư tưởng của đảng, phục vụ trực tiếp cho việc làm rõ những cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đồng thời góp phần quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị nước nhà.

Được biết, hiện nay ông đang làm chủ nhiệm một đề tài cấp Nhà nước: "Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam", góp phần cung cấp những luận cứ khoa học mới dưới góc độ lý luận chính trị về Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phục vụ trực tiếp bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991; Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 và soạn thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Là một trong những người lãnh đạo Học viên Báo chí và Tuyên truyền, công việc không phải là ít, nhưng ông vẫn luôn đau đáu hướng về quê hương, vẫn về tỉnh, về huyện báo cáo các Nghị quyết của Đảng, báo cáo về Cuộc vận động: "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" ; đồng thời ông cũng tham gia báo cáo các chuyên đề về Đảng, về văn hoá…với tâm nguyện đóng góp được gì cho quê hương thì sẵn sàng. Khi hội đồng hương Bắc Giang, Tân Yên, kể cả Yên Thế họp mặt để phát động một chương trình gì đó đóng góp cho quê hương thì ông luôn ủng hộ hết mình.

Năm 2004, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu GS Chính trị học và cho tới nay ông vẫn là GS duy nhất của Học viện.

Từ Hà Nội về Bắc Giang không xa, nên cứ khi nào rảnh là ông lại cùng gia đình về thăm quê, thăm bà con lối xóm. Ông thấy tự hào khi quê hương ngày càng đổi mới hơn, giàu đẹp hơn. Về đến đầu làng nghe bà con lối xóm nói chuyện các cháu  thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia đạt giải, vị giáo sư vui mừng khôn xiết, bởi ông biết  thế hệ sau tiếp nối thế hệ trước và truyền thống quê hương như nguồn mạch nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người, nó luôn luôn ngọt ngào như chùm khế trên cây.

Nguyễn Thị Hồng  ( Báo Bắc Giang ) 

Tin cùng chuyên mục